Nói
đến
NSND
Thanh
Hoài,
người
ta
nghĩ
ngay
đến
một
giọng
ca
chèo
nức
tiếng
chuẩn
mực.
Nhưng
những
người
yêu
nghệ
thuật
dân
gian
truyền
thống
sẽ
còn
biết
đến
một
Thanh
Hoài
khác
nữa
-
Thanh
Hoài
của
xẩm,
hát
văn,
ca
trù…
và
với
loại
hình
nghệ
thuật
nào,
bà
cũng
học
được
cách
ngắt
hơi,
nhả
chữ
đặc
trưng
để
bật
lên
được
vẻ
đẹp
của
từng
loại
hình…
Tài
năng
là
vậy,
nhưng
tiếp
xúc
với
bà,
người
đối
diện
vẫn
cảm
nhận
được
tính
cách
của
một
“cô
gái
-
hương
đồng
gió
nội”:
Hồn
hậu,
đảm
đang,
chất
phác…
Có
cảm
giác
bà
luôn
sẵn
sàng
chia
sẻ,
gánh
vác
công
việc
với
bất
cứ
ai
-
miễn
đó
là
công
việc
liên
quan
đến
nghệ
thuật.
Nghe
nói,
mới
đây
bà
vừa
có
chương
trình
biểu
diễn
với
NSND
Thanh
Lam.
Điều
gì
khiến
cho
một
giọng
ca
luôn
có
sự
phá
cách
ấy
lại
kết
hợp
được
với
chất
giọng
thuần
truyền
thống,
thưa
bà?
-
Đó
là
chương
trình
phục
vụ
cho
lễ
hội
chùa
Tây
Phương,
có
Đại
đức
từ
Ấn
Độ
sang.
Thanh
Lam
hát
mới
(nhạc
Phật),
tôi
ngâm
thơ
cổ,
hát
văn,
hát
ca
trù.
Chương
trình
chỉ
là
buổi
biểu
diễn
thuần
túy
chứ
không
có
sự
kết
hợp
gì.
Nhưng
tiện
đây,
tôi
cũng
“khoe”
luôn:
Từ
ngày
về
hưu
đến
giờ,
nhờ
Giời
tôi
vẫn
giữ
được
sức
khỏe
và
có
duyên
với
các
nghệ
sĩ
trẻ.
Họ
làm
nghề
và
luôn
luôn
có
nhiều
sáng
tạo
với
khát
khao
kết
hợp
giữa
nghệ
thuật
đương
đại
với
nghệ
thuật
truyền
thống.
Quốc
Trung
làm
“Đường
xa
vạn
dặm”
rất
hay.
Trong
chương
trình
ấy,
tôi
vẫn
được
hát
trên
nền
chèo
cổ,
giữ
nguyên
gốc…
chỉ
có
điều
tiết
tấu
nhanh
hơn
một
chút,
nhưng
vẫn
theo
kịp.
Hay
làm
với
Phó
An
My
về
đối
thoại
giữa
hát
văn
với
piano,
sau
đó
lại
làm
piano
với
lửa
và
tuồng;
năm
ngoái
lại
làm
“Gió”
-
dựa
trên
tích
“Quan
âm
Thị
Kính”.
Tôi
hát
và
bạn
ý
đệm
đàn
piano
có
thêm
dàn
nhạc
dân
tộc
và
trống
mới
-
rất
phá
cách
nhưng
vẫn
giữ
được
hơi
hướng
của
chèo
cổ.
Như
vậy,
có
thể
nói
bà
là
người
theo
kịp
thời
đại…
-
Tôi
nghĩ,
được
các
em,
các
cháu
quý
mến
là
bởi
mình
vẫn
theo
được
sáng
tạo
của
họ,
cho
dù
họ
có
phá
cách
đến
đâu,
mình
vẫn
giữ
được
nhịp
truyền
thống
của
mình,
còn
những
người
trẻ
“đi”
theo
giai
điệu
sáng
tạo…
nhưng
vẫn
hòa
quyện
được
với
nhau,
vẫn
toát
lên
được
cái
“hồn”
chủ
đạo
đầy
tính
truyền
thống…
Đó
cũng
chính
là
đích
đến
của
sáng
tạo
nghệ
thuật.
Hôm
đi
diễn
với
Hồ
Hoài
Anh
trong
tác
phẩm
“Vịnh
sông
nước”
cũng
vậy,
đoạn
đầu
tiên,
các
nghệ
sĩ
hát
mới,
đoạn
giữa
tôi
ngâm
thơ
cổ
để
tôn
vinh
lời
thơ
của
Hồ
Xuân
Hương
-
một
sự
kết
hợp
rất
thú
vị.
Mỗi
nghệ
sĩ
trẻ
có
một
chất
khác
nhau,
nhưng
nói
chung
mình
vẫn
phải
giữ
truyền
thống
và
ủng
hộ
các
em
sáng
tạo.
Nhưng
sáng
tạo
phải
làm
sao
vẫn
giữ
được
làn
điệu
cũ
mà
lại
dễ
nghe,
hợp
thời
đại
hơn.
Nhắc
đến
NSND
Thanh
Hoài,
người
ta
cũng
hay
nhắc
đến
“Xúy
Vân
giả
dại”
-
một
vai
diễn
mẫu
mực
trong
chèo
cổ…
Đó
có
phải
là
vai
bà
ưng
nhất?
-
Tôi
phải
đính
chính
lại
chỗ
này.
Vai
Xúy
Vân
trong
vở
“Kim
Nham”
tôi
được
học
trong
trường
và
màn
“giả
dại”
là
tôi
được
điểm
cao
nhất,
được
đánh
giá
là
xuất
sắc
nhất.
Nhưng
chỉ
là
cái
màn
điên
ấy
thôi.
Chứ
còn
vai
Xúy
Vân
đóng
cả
5
màn
của
Nhà
hát
Chèo
Trung
ương
mà
được
nhiều
người
biết
đến
thì
không
phải
là
tôi
mà
là
chị
Diễm
Lộc
(NSND
Diễm
Lộc),
do
NSND
Dịu
Hương
dạy.
Thế
hệ
sau
này
có
NSƯT
Thúy
Ngần,
rồi
đến
NSND
Kim
Liên.
Ngày
tôi
học
thì
chỉ
được
diễn
các
trích
đoạn
“Xúy
Vân
giả
dại”,
“Thị
Màu
lên
chùa”,
“Đào
Huế”…
chứ
có
được
dựng
cả
vở
đâu?
Đây
là
sự
hiểu
lầm
do
một
bài
báo
nào
đó
đăng
lên
trên
mạng
mà
tôi
rất
băn
khoăn,
áy
náy
vì
không
biết
“nói
lại
cho
rõ”
bằng
cách
nào…
Thưa,
vậy
thì
vai
nào
khiến
bà
ưng
nhất
trong
suốt
cuộc
đời
làm
nghệ
thuật
của
mình?
-
Mỗi
vai
có
một
tính
cách
khác
nhau,
vai
nào
tôi
cũng
thích.
Nhưng
có
một
kỷ
niệm
với
vai
Giáng
Hương
trong
vở
“Từ
Thức”
khiến
tôi
ấn
tượng
nhất.
Đó
là
năm
Nhà
hát
Chèo
Việt
Nam
mang
vở
đó
đi
hội
diễn.
Trong
quá
trình
tập
luyện,
tôi
chỉ
ở
kíp
2
thôi.
Nhưng
khi
chỉ
còn
2
ngày
nữa
là
đến
buổi
diễn
chính
thức
thì
cô
diễn
viên
ở
kíp
1
bị
ốm,
đi
nằm
viện
và
tôi
phải
(được)
“thế
chân”.
Và
thật
bất
ngờ,
tôi
được
nhận
Huy
chương
Vàng
với
vai
diễn
đó.
Trong
giới
nghệ
sĩ,
cũng
có
nhiều
sự
cạnh
tranh
(cả
tiêu
cực
lẫn
lành
mạnh).
Vậy
có
khi
nào
bà
cảm
thấy
phải
chịu
sức
ép
trong
nghề,
không
vui
hay
khó
khăn
khi
làm
nghề
không,
thưa
bà?
-
Tôi
rất
say
mê
với
nghề,
vì
thế,
có
thể
nói,
không
có
điều
gì
khiến
mình
không
vui.
Còn
khó
khăn
thì
tôi
nghĩ,
lúc
trước
ai
mà
chả
có
khó
khăn.
Tôi
đã
có
hàng
chục
năm
vừa
đi
diễn,
vừa
nuôi
lợn…
để
nuôi
mình,
nuôi
con,
nuôi
nghề.
Nhiều
người
khác
khéo
tay
hơn,
giỏi
giang
hơn
thì
họ
làm
thêm
các
việc
khác
như
may
vá,
gia
công
các
mặt
hàng
thủ
công…
Nhưng
tôi
ở
quê
lên,
cũng
chẳng
có
họ
hàng
thân
thích
để
mà
kiếm
thêm
việc
gì
khác.
Nhưng
cho
dù
khó
khăn
đến
mấy
thì
cũng
chưa
bao
giờ
tôi
nghĩ
đến
việc
bỏ
nghề…
Rồi
giai
đoạn
ấy
cũng
qua
đi.
Có
lòng
yêu
nghề
thì
cứ
làm
việc,
cứ
hát
thôi
chứ
có
nghĩ
đến
danh
hiệu
nọ,
danh
hiệu
kia
đâu.
Bây
giờ,
cũng
như
trước
kia,
ai
mời
đi
biểu
diễn
ở
đâu
thì
cứ
đi
-
khi
mình
còn
hát
được…
Những
chuyến
biểu
diễn
ở
nước
ngoài
bao
giờ
cũng
mang
cho
tôi
cảm
giác
hạnh
phúc
lạ
thường
-
hạnh
phúc
bởi
mình
được
sống,
được
làm
nghề
ở
chính
quê
hương
mình.
Có
nhiều
Việt
kiều
ở
Thụy
Sĩ,
Pháp,
Hà
Lan…
khóc
khi
nghe/xem
chúng
tôi
biểu
diễn.
Họ
nói
rằng,
họ
rất
nhớ
nhà,
nhớ
quê
hương…
nhưng
giờ
không
thể
có
cơ
hội
được
về
thăm
nơi
chôn
nhau
cắt
rốn
nữa
rồi
vì
tuổi
đã
cao,
sức
khỏe
không
cho
phép.
Cùng
thế
hệ
với
bà,
hiện
giờ
có
ai
còn
làm
nghề
được
nữa
không,
thưa
bà?
-
Những
người
còn
được
làm
nghề
thường
xuyên
như
tôi,
có
thể
nói
là
đếm
trên
đầu
ngón
tay.
Có
người,
không
hát
nữa
từ
cả
trước
khi
nghỉ
hưu.
Có
người
tự
nhiên
mất
tiếng,
mất
giọng
-
có
thể
là
do
sức
khỏe.
Riêng
tôi,
ơn
Trời
Phật,
năm
nay
đã
69
tuổi
nhưng
vẫn
đi
hát
được
và
được
các
nghệ
sĩ
trẻ
rất
quý.
Chỉ
có
khác
là
ngày
xưa
còn
trẻ
thì
tôi
hát
tone
“rê”,
các
bạn
nhạc
công
mà
có
đánh
sai
đi
mấy
tone
thì
vẫn
hát
được,
nhưng
giờ
thì
phải
lấy
đúng
tone
của
mình,
cao
quá
không
hát
được.
Nghe
nói,
ngoài
việc
đi
hát,
bà
vẫn
tham
gia
công
tác
giảng
dạy
ở
trường
Đại
học
Sân
khấu
-
Điện
ảnh
Hà
Nội?
-
Trong
tất
cả
các
khoa
ở
trường
thì
khoa
hát
chèo
hằng
năm
vẫn
là
khoa
có
số
tuyển
sinh
đông
nhất.
Thỉnh
thoảng
tôi
tham
gia
giảng
dạy
một
khóa
nào
đó
-
chỉ
dạy
hát
thôi,
còn
người
khác
dạy
múa,
dạy
diễn.
Dạy
hát
vô
cùng
vất
vả
vì
mình
phải
có
sức
khỏe
để
hát
mẫu
cho
sinh
viên
nghe,
muốn
sửa
cho
họ
thì
cũng
phải
hát…
Ngày
xưa,
tôi
may
mắn
được
các
nghệ
nhân
nổi
tiếng
dạy
hát.
Mới
đầu
được
cụ
Hai
Sinh,
cụ
Nguyễn
Văn
Bổng
-
nghệ
nhân
nhạc
công
-
sơ
tuyển
ở
quê
và
nhận.
Sau
này,
được
đi
học
ở
trường
rồi
thì
lại
được
các
nghệ
nhân:
Cụ
Năm
Ngũ,
cụ
Phẩm;
NSND
Minh
Lý,
NSND
Dịu
Hương,
NSND
Bùi
Trọng
Đang,
NSƯT
Lệ
Hiền...
dạy
dỗ,
chỉ
bảo.
Vì
thế,
giờ
đây,
tôi
muốn
truyền
lại
những
kiến
thức,
kinh
nghiệm
đó
cho
các
em.
Để
kéo
được
khán
giả
đến
với
sân
khấu
truyền
thống,
ngày
nay,
các
tác
giả
kịch
bản
hay
“pha”
nhiều
loại
hình
nghệ
thuật
với
nhau,
nhất
là
đối
với
các
tác
phẩm
chèo.
Liệu
như
vậy,
“hồn
cốt”
của
chèo
có
bị
mai
một
không,
thưa
bà?
-
Tôi
cho
rằng,
đó
cũng
là
một
cách
làm
sáng
tạo
bởi
nếu
di
sản
mà
cứ
nằm
im,
không
phát
huy
được
tác
dụng
thì
cũng
bị
“chết
mòn”.
Tuy
nhiên,
đối
với
các
vở
chèo
cổ,
các
làn
điệu
cổ
thì
vẫn
phải
giữ
gìn
nguyên
vẹn.
Nhà
hát
Chèo
Việt
Nam
là
một
trong
những
đơn
vị
đang
làm
rất
tốt
chuyện
này.
Các
thế
hệ
nghệ
sĩ
đã
thay
nhau
giữ
gìn.
Từ
thế
hệ
này
sang
thế
hệ
khác
đều
phải
chuyển
giao
cho
nhau
một
“bộ
khung”
các
vai
diễn
mẫu:
Từ
Thiện
Sĩ,
Thị
Mầu,
Thiện
Nam,
Phú
ông,
Thị
Kính,
Xúy
Vân,
đào
Huế…
Ngay
cả
trang
phục,
theo
tôi
cũng
phải
giữ
được
khuôn
mẫu
chuẩn
mực
của
các
cụ
để
lại.
Ngày
xưa,
trang
phục
của
chèo
làm
gì
có
kim
sa,
kim
tuyến,
lấp
lánh
như
bây
giờ,
mà
chỉ
là
những
bộ
nâu
sồng,
ở
một
số
nhân
vật
thì
có
pha
thêm
chút
cánh
sen,
trắng
hay
đen
mà
thôi…
như
thế
mới
đúng
tinh
thần
của
chèo:
Dân
dã,
có
thể
diễn
ở
bất
cứ
đâu.
Những
người
nước
ngoài
am
hiểu
văn
hóa
Việt
Nam
cũng
không
đồng
tình
với
trang
phục
kiểu
lấp
lánh
đó
trong
chèo.
Tôi
được
biết
điều
này
qua
một
đạo
diễn
người
Pháp.
Xin
cảm
ơn
bà
về
cuộc
trò
chuyện!
NSND
Ngô
Thị
Thanh
Hoài
sinh
năm
1950
tại
Thái
Bình.
Bà
đã
4
lần
giành
được
Huy
chương
Vàng
tại
các
cuộc
thi,
liên
hoan
nghệ
thuật
trong
nước.
Giải
Đặc
biệt
Liên
hoan
Âm
nhạc
dân
gian
quốc
tế
ở
Quảng
Châu
(Trung
Quốc).
Giải
Chuông
Vàng
Liên
hoan
Âm
nhạc
dân
gian
quốc
tế
ở
Bắc
Kinh
(Trung
Quốc).
KIM
ANH
(THỰC
HIỆN)
NSND
Thanh
Hoài
-
Giọng
hát
“Chuông
vàng,
khánh
bạc”
Có
thể
nói
Thanh
Hoài
là
một
nghệ
sĩ
không
chỉ
có
giọng
hát
“vàng”
mà
còn
là
một
nghệ
sĩ
tận
tâm
tận
lực
với
nghề.
Có
một
nghệ
sĩ
được
sinh
ra,
lớn
lên
trên
mảnh
đất
chèo
quê
lúa
Thái
Bình,
trưởng
thành
từ
nhà
hát
chèo
Việt
Nam
nhưng
tên
tuổi
lại
luôn
gắn
với
chương
trình
hát
chèo
hát
văn
của
Đài
TNVN,
vâng,
đó
là
NSND
Thanh
Hoài.
NSND
Thanh
Hoài
được
sinh
ra
trên
miền
quê
lúa
Hưng
Hà
-
Thái
Bình.
Lớn
lên
trong
hơi
thở
của
chiếng
chèo
nổi
tiếng
đất
Bắc
với
những
câu
hát
chèo
ngọt
ngào
ru
những
dòng
sông
chở
nặng
phù
sa,
ru
những
mái
đình
cây
đa
trầm
lắng,
êm
ả...
để
rồi
những
câu
hát
ấy
không
biết
tự
bao
giờ
đã
biến
thành
niềm
say
mê
đưa
chân
cô
gái
Thanh
Hoài
đến
với
Nhà
hát
chèo
Việt
Nam
khi
cô
bước
vào
tuổi
15,
đó
là
năm
1965.
 |
|
NSND
Thanh
Hoài. |
Sau
khi
trúng
tuyển,
Thanh
Hoài
được
Nhà
hát
cho
theo
học
một
khoá
đào
tạo
3
năm
tại
trường
Nghệ
thuật
sân
khấu.
Với
chất
giọng
mượt
mà,
truyền
cảm,
với
tâm
hồn
yêu
ca
hát
và
lòng
hăng
say,
nhiệt
tình
lại
được
sự
dìu
dắt,
dạy
bảo
tận
tình
của
những
bậc
thầy
tài
hoa
như
NSND
Minh
Lý,
Dịu
Hương,
Bùi
Trọng
Đang,
sau
3
năm
học
Thanh
Hoài
đã
tốt
nghiệp
với
số
điểm
cao
nhất
cho
vai
Suý
Vân
trong
lớp
trò
"Suý
Vân
giả
dại"
của
vở
chèo
cổ
"Kim
Nham".
Trong
suốt
mấy
chục
năm
là
diễn
viên
Nhà
hát
chèo
Việt
Nam
Thanh
Hoài
luôn
đảm
nhiệm
những
vai
chính
nội
tâm
phức
tạp
và
bà
luôn
thành
công
trong
việc
khắc
họạ
nội
tâm
nhân
vật.
Chính
những
tấm
huy
chương
sau
các
kỳ
hội
diễn
là
sự
khẳng
định
cho
tài
năng
của
bà.
Năm
1981
khi
tham
gia Hội
diễn
tiếng
hát
chèo
hay
toàn
quốc tổ
chức
tại
Thái
Bình,
với
điệu
ngâm
"Kiều
ở
lầu
Ngưng
Bích"
bà
đã
giành
HCV
với
sự
thành
công
trong
việc
lột
tả
tâm
trạng
xót
xa,
buồn
tủi
của
nàng
Kiều
khi
bị
nhốt
ở
lầu
Ngưng
Bích.
Năm
1985
bà
cũng
giành
HCB
trong Hội
diễn
sân
khấu
chèo,
tuồng
toàn
quốc tổ
chức
tại
Quy
Nhơn,
đây
là
một
giải
đặc
biệt
bởi
bà
đã
thành
công
với
vai
trò
"hát
đế",
một
cách
gọi
cho
người
hát
giới
thiệu
tâm
trạng
nhân
vật
trước
khi
diễn
viên
ra
sân
khấu.
Ngoài
ra
bà
còn
giành
HCV
với
vai
diễn
Giáng
Hương
trong
vở
"Từ
Thức
gặp
tiên"
tại Hội
diễn
sân
khấu
chèo
toàn
quốc
năm
1990; HCB
vai
Bà
chúa
liễu
trong
vở
"Vua
Chổm"
tại Hội
diễn
sân
khấu
chèo
toàn
quốc
năm
1994;
năm
1992,
với
điệu
hát
"Kể
bốn
mùa"
(vở
Lưu
Bình
Dương
Lễ)
bà
đã
giành
HCV
trong Liên
hoan
tiếng
hát
chèo,
tuồng
hay
toàn
quốc; cũng
trong
năm
này
Thanh
Hoài
đã
giành
HCV
trên
một
"sân"
khác,
đó
là Hội
thi
ca
nhạc
dân
tộc
toàn
quốc
với
điệu
hát
"Xẩm
huê
tình".
Với
những
đóng
góp
không
nhỏ
cho
nghệ
thuật,
năm
1992
NS
Thanh
Hoài
đã
vinh
dự
được
nhà
nước
tặng
danh
hiệu
cao
quý
-
Nghệ
sĩ
ưu
tú.Và
năm
2007
vinh
dự
lớn
đến
với
bà,
NS
Thanh
Hoài
là
một
trong
số
không
nhiều
các
Ns
ngành
chèo
được
phong
tặng
danh
hiệu
cao
quý
Nghệ
sĩ
nhân
dân.
Bên
cạnh
hát
chèo,
NSND
Thanh
Hoài
cũng
rất
thành
công
với
hát
văn.
Chính
NSND
Bùi
Trọng
Đang
là
người
thầy
đã
hướng
dẫn
bà
trong
nghệ
thuật
hát
văn.
Năm
1994
với
điệu
hát
văn
"Thú
Hương
Sơn"
Thanh
Hoài
đã
góp
phần
giành
giải
đặc
biệt
cho
đoàn
Việt
Nam
tại Liên
hoan
dân
ca
quốc
tế tổ
chức
tại
Quảng
Châu,
Trung
Quốc
với
sự
tham
gia
của
38
nước
trên
thế
giới.
Có
thể
nói
Thanh
Hoài
là
một
nghệ
sĩ
không
chỉ
có
giọng
hát
“vàng”
mà
còn
là
một
nghệ
sĩ
tận
tâm
tận
lực
với
nghề.
Không
chỉ
học
hát
học
diễn
chèo,
bà
còn
theo
học
nhiều
loại
hình
nghệ
thuật
ca
hát
khác
như
Ca
Trù,
hát
văn,
hát
xẩm,
hát
quan
họ,
ngâm
thơ,
ở
lĩnh
vực
nào
bà
cũng
ghi
dấu
ấn
nhất
định
trong
lòng
công
chúng.
Cho
đến
bây
giờ
khi
đã
bước
qua
tuổi
lục
tuần
nghệ
sĩ
Thanh
Hoài
vẫn
không
ngừng
học
tập
trau
dồi
đạo
đức
nghề
nghiệp.
Điều
đáng
quý
đáng
trân
trọng
ở
nghệ
sĩ
Thanh
Hoài
là
bà
diễn,
bà
hát
không
vì
mục
đích
nào
khác
ngoài
mục
đích
phục
vụ
công
chúng.
40
năm
qua,
ngoài
công
việc
bận
rộn
của
Nhà
hát,
của
gia
đình,
NSND
Thanh
Hoài
luôn
dành
thời
gian
cho
làn
sóng
phát
thanh
Quốc
Gia.
Có
thể
nói,
tuy
không
phải
là
người
trong
biên
chế
nhưng
bà
thực
sự
gắn
bó
với
Đài
TNVN
như
chính
cơ
quan
mình.
Khi
đã
có
lời
mới
thu
thanh,
dù
bận
mấy
bà
cũng
dành
quỹ
thời
gian
ít
ỏi
của
mình
để
tập
luyện,
và
thu
xếp
để
đến
đúng
giờ.
Nếu
trong
thời
gian
ấy
mà
quá
bận,
bà
xin
với
biên
tập
lùi
thời
gian
chứ
nhất
định
không
chịu
“nhường”
bài
cho
ai
cả.
hơn
40
năm
công
tác,
đã
có
hàng
trăm
tiết
mục
trên
làn
sóng,
năm
nay
đã
xấp
xỉ
tuổi
70
mà
bà
vẫn
đau
đáu
mỗi
khi
gặp
biên
tập
viên
“Khi
nào
có
bài
cần
đến
u
cứ
gọi
nhé”.
Tiếng
là
có
NSND,
có
giọng
hát
“Chuông
vàng,
khánh
bạc”,
là
phu
nhân
của
nhạc
sĩ
Vũ
Hồng
Quân,
nguyên
giám
đốc
Nhà
hát
chèo
Việt
Nam,
nhưng
ngoài
đời
Thanh
Hoài
vẫn
sống
giản
dị,
khiêm
nhường,
luôn
tận
tình
chỉ
bảo
lớp
đàn
em
đi
sau.
Cái
đáng
quý
nhất
mà
tôi
luôn
kính
trọng
bà
là
dù
thu
chương
trình
dù
lớn
hay
nhỏ,
dù
dài
hay
ngắn
chưa
bao
giờ
bà
hỏi
“tiền
bao
nhiêu”,
mà
cứ
theo
mức
quy
định
của
Đài,
của
Nhà
nước.
Mỗi
lần
gặp
tôi,
NSND
Thanh
Hoài
lại
nhắc
đi
nhắc
lại
“U
cảm
ơn
con
nhé.
Nhờ
có
giải
chuông
vàng
trong
liên
hoan
Phát
thanh
Châu
á
Thái
Bình
Dương
viết
về
nghệ
thuật
ca
trù
của
con
mà
u
được
xét
phong
tặng
danh
hiệu
NSND”.
Ấy
là
bà
đang
nhắc
tới
kỷ
niệm
của
tôi
khi
mời
bà,
gia
đình
nghệ
nhân
Nguyễn
Văn
Mùi
làm
chương
trình
giới
thiệu
nghệ
thuật
ca
trù,
được
giải
chuông
vàng,
giải
cao
nhất
trong
Liên
hoan
phát
thanh
Châu
á
Thái
Bình
Dương
ABU.
Ngày
ấy
bà
hát
36
giọng.
Cho
đến
nay,
với
riêng
tôi,
bà
là
người
hát
điệu
hát
này
thành
công
nhất.
Giọng
hát
của
bà
với
tôi
như
"chuông
vàng,
khánh
bạc”./.
Mai
Văn
Lạng/VOV
Ý kiến bạn đọc